Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Lời kêu gọi của Người thể hiện tinh thần tự lực, tự cường để quyết giữ cho được quyền tự chủ, sự tự quyết và nền tự do, độc lập của nước nhà.
Thấm nhuần lời kêu gọi thiêng liêng ấy, đồng báo các dân tộc Tây Bắc đã thành lập các đội dân quân du kích, sử dụng tất cả những loại vũ khí thô sơ, tự tạo như: Giáo, mác, nỏ, súng kíp, đặt chông, lá độc... để chống giặc. Trong số những cách đánh độc đáo được hình thành từ thực tiễn chiến đấu, “rượu kế” của dân quân du kích bản Lõm (Mộc Châu, Sơn La) là một minh chứng sinh động cho trí tuệ và bản lĩnh của người dân vùng cao.
Trung tuần tháng 10/1947, sau thất bại tại Phú Thọ, một toán lính Pháp và tay sai tháo chạy lên Mộc Châu, Sơn La. Khi vào bản Lõm, chúng bắt người dân trong bản phục dịch gây nên nỗi oán hận sâu sắc trong cộng đồng. Trong tình thế đó, quân và dân bản Lõm đã họp bàn, thống nhất kế hoạch tiêu diệt địch bằng phương thức phù hợp với điều kiện địa phương, bảo đảm bí mật, an toàn.
Thực hiện kế hoạch của đội du kích, chị em trong bản chuẩn bị cơm và rượu tiếp đón binh lính Pháp một cách niềm nở, tận tình để tránh bị nghi ngờ. Rượu trong buổi tiếp đón đựng vào hũ rượu cần ngâm củ độc với nồng độ đủ cho quân Pháp bị say và mất khả năng chiến đấu.
Nhờ sự phối hợp chặt chẽ và mưu trí, dân quân du kích bắt sống được 12 tên, thu toàn bộ trang bị vũ khí mà không tốn viên đạn nào. Với cách đánh địch độc đáo, cùng sự giác ngộ cách mạng, sự mưu trí, dũng cảm, linh hoạt, Nhân dân bản Lõm đã tiêu diệt địch bằng loại vũ khí thô sơ, tự tạo sẵn có tại bản làng. Chiến công này có ý nghĩa to lớn, cổ vũ mạnh mẽ Nhân dân các dân tộc Tây Bắc nói riêng, Nhân dân cả nước nói chung quyết tâm chiến đấu, giải phóng bản làng, giải phóng quê hương.
Tinh thần tự lực, tự cường của bản Nhân dân Lõm nói riêng và của Nhân dân các dân tộc Tây Bắc nói chung là sự đáp lại sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài phát biểu khi động viên toàn dân tích cực tham gia và ủng hộ Chính phủ trong dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến (ngày 10/6/1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do”. Như vậy, theo Người, Việt Nam luôn cần phải tự lực, tự cường, không chỉ trong kháng chiến, mà cả trong xây dựng đất nước.
Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nhận thức rõ chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, đoàn kết, thống nhất, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường trong thực hiện nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị, từng địa phương và nhiệm vụ chung của cách mạng. Tinh thần tự lực, tự cường của cả dân tộc là nhân tố quan trọng để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.

"Hũ rượu cần" đang được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ
Ngày nay, Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ đang lưu giữ, trưng bày và phát huy giá trị lịch sử của rất nhiều hiện vật thô sơ, tự tạo thể hiện sự sáng tạo và tinh thần tự lực tự cường của dân tộc như: Nỏ, Súng kíp, Hũ rượu cần, Lưỡi mác… Những hiện vật tiêu biểu đó hàng ngày vẫn kể những câu chuyện của quá khứ hào hùng, những ký ức của một thời khói lửa, nơi kết nối giữa quá khứ với hiện tại và truyền cảm hứng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.