Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954 là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Trận quyết chiến chiến lược này không chỉ đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Thực dân Pháp ở Đông Dương, mà còn làm rung chuyển ý chí xâm lược của các thế lực thực dân, buộc họ phải ngồi vào bàn đàm phán. Từ chiến thắng ấy, cục diện chính trị - quân sự tại Đông Dương đã thay đổi căn bản, tạo tiền đề quyết định cho việc khai mạc và thành công của Hội nghị Genève.
Cuối năm 1953, cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương đã kéo dài 8 năm, nhưng ngày càng lâm vào thế bị động trên khắp các chiến trường. Nhằm cứu vãn tình hình, hy vọng tìm “một lối thoát danh dự”, Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương được thay thế bằng Tướng Navarre - viên tướng được đánh giá là sáng giá nhất nước Pháp thời bấy giờ. Dựa vào sự ủng hộ của Chính phủ Pháp và nguồn viện trợ lớn của Mỹ, Navarre xây dựng một kế hoạch quân sự mới, kết hợp phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tránh đối đầu trực diện, đồng thời mở các cuộc tiến công ở phía Nam vĩ tuyến 18, từng bước tạo thế mạnh để chuyển sang tấn công quy mô lớn. Kế hoạch Navarre được Mỹ hậu thuẫn tối đa và kỳ vọng sẽ xoay chuyển tình thế chiến trường.
Để thực hiện kế hoạch này, Pháp gấp rút tăng quân, củng cố lực lượng cơ động và lựa chọn Điện Biên Phủ - một vị trí chiến lược án ngữ Tây Bắc - làm nơi quyết chiến. Sau cuộc tiến quân của Quân đội nhân dân Việt Nam lên Tây Bắc, Bộ Chỉ huy Pháp lập tức điều lực lượng nhảy dù chiếm giữ Điện Biên Phủ, xây dựng thành một Tập đoàn cứ điểm mạnh, một “pháo đài bất khả xâm phạm”, “cỗ máy nghiền nát bộ đội chủ lực Việt Nam”, thậm chí được ví như “Véc-đun của Đông Nam Á”. Mục tiêu của Pháp là chặn đứng chủ lực Việt Minh ở Tây Bắc, bảo vệ Thượng Lào và buộc ta phải vào cuộc đối đầu mà họ cho rằng có lợi cho bên phòng thủ.
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 8 cụm, thuộc 3 phân khu, có thể chi viện lẫn nhau khi bị tiến công; có 17 tiểu đoàn bộ binh, phần lớn là lính Âu - Phi thiện chiến, lính dù tinh nhuệ, cùng 116 khẩu pháo, cối, 10 xe tăng và nhiều vũ khí hiện đại như súng phun lửa, đại liên nhiều nòng, mìn đĩa, mìn na-pan, thiết bị ngắm hồng ngoại… Với tiềm lực quân sự mạnh và vị trí chiến lược quan trọng, Navarre tin rằng Điện Biên Phủ sẽ là “liều thuốc giải” cho những khó khăn của nước Pháp tại Đông Dương và quyết tâm giữ bằng mọi giá. Chính vì thế, Điện Biên Phủ trở thành nơi đọ sức quyết định giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Thực dân Pháp trong cuộc chạy đua đầy căng thẳng trước thềm Hội nghị Genève.
Ngày 25/01/1954, Hội nghị ngoại trưởng bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp tại Béclin (Berlin). Đến ngày 18/02/1954, hội nghị thống nhất triệu tập Hội nghị quốc tế Genève để giải quyết vấn đề Triều Tiên và bàn về việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Quyết định tổ chức Hội nghị vào ngày 26/4/1954 đã được Nhân dân Việt Nam và dư luận tiến bộ thế giới hoan nghênh, coi đó là tín hiệu mở ra triển vọng hòa bình cho các nước ở Đông Dương. Tuy nhiên, ngay cả khi đã chấp nhận đàm phán, Chính phủ Pháp và Mỹ vẫn nuôi tham vọng xoay chuyển cục diện bằng con đường quân sự, tiếp tục tăng cường lực lượng tại Điện Biên Phủ với hy vọng giành thế mạnh trước khi Hội nghị khai mạc.
Nắm chắc diễn biến trên chiến trường và nhận thức rõ ý nghĩa chiến lược của Điện Biên Phủ đối với cục diện chiến tranh cũng như quá trình đàm phán quốc tế, đầu tháng 12/1953, Trung ương Đảng và Bộ Chính quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung ương Đảng xác định đây là một chiến dịch lớn, kéo dài và mang ý nghĩa quyết chiến chiến lược với thực dân Pháp trên địa bàn núi rừng hiểm trở, cách xa hậu phương. Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã dồn toàn lực, chuẩn bị mọi mặt cho trận đánh lịch sử.
Sau khi công tác chuẩn bị hoàn tất, ngày 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức nổ súng, mở đầu cho trận quyết chiến mang tính quyết định nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong khi chiến sự đang diễn ra vô cùng ác liệt tại lòng chảo Điện Biên, ngày 26/4/1954, Hội nghị Genève chính thức khai mạc. Cũng trong ngày này, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đến Genève và tuyên bố mang theo “sứ mệnh hòa bình”, nhưng thực chất Mỹ tìm cách gây sức ép buộc Pháp và Anh sớm rời khỏi hội nghị, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng chiến tranh ở Đông Dương. Song song với đó, Tổng thống Dwight D. Eisenhower gửi thư yêu cầu Pháp duy trì lập trường cứng rắn và tiếp tục đường lối can thiệp quân sự.
Giữa bối cảnh quốc tế phức tạp, trên chiến trường Điện Biên Phủ, quân và dân Việt Nam vẫn chiến đấu anh dũng và liên tiếp giành thắng lợi. Ngày 04/5/1954, Đoàn đại biểu Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu tới Genève. Cùng thời điểm đó, tình hình nguy cấp tại Điện Biên Phủ khiến Chính phủ Pháp lâm vào khủng hoảng, vấp phải sự chỉ trích dữ dội của các nghị sĩ Quốc hội Pháp vì không nỗ lực tìm kiếm hòa bình.
Đến 18 giờ 45 phút ngày 06/5/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam mở đợt tiến công vào cứ điểm đồi A1, điểm cao quan trọng nhất của phân khu trung tâm. Khi A1 bị tiêu diệt, ta chuyển toàn lực sang tổng công kích. Đúng 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, bộ đội ta đánh chiếm Sở Chỉ huy Tập đoàn cứ điểm, bắt sống Tướng De Castries và toàn bộ Bộ tham mưu của quân Pháp. Sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng, quân và dân ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 quân tinh nhuệ của Pháp cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự kiên cố tại Điện Biên Phủ. Thất bại nặng nề này đã giáng đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của Pháp, buộc họ không còn khả năng kéo dài chiến tranh.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ làm thay đổi cục diện chiến trường mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Thắng lợi ấy trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc khắp Á - Phi - Mỹ Latinh. Trước sức ép của dư luận tiến bộ và thất bại không thể cứu vãn, Chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận đàm phán với Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Genève.
Ngày 08/5/1954, chỉ một ngày sau chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ, Hội nghị Genève về Đông Dương chính thức khai mạc với sự tham dự của Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) và Pháp. Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn.
Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày lập trường với nội dung cơ bản: Đình chỉ chiến sự ở toàn Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho Việt Nam, Lào và Campuchia, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Trải qua 75 ngày đêm đàm phán, với 31 phiên họp toàn thể cùng nhiều cuộc tiếp xúc song phương và đa phương, ngày 21/7/1954, Hiệp định Genève được ký kết với những nội dung quan trọng:
- Thỏa thuận chung cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia:
+ Công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước.
+ Đình chỉ chiến sự trên toàn cõi Đông Dương.
+ Pháp rút quân khỏi lãnh thổ ba nước. Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia.
+ Không có căn cứ nước ngoài và không liên minh quân sự với nước ngoài.
+ Tổng tuyển cử ở mỗi nước.
+ Không trả thù những người hợp tác với đối phương.
+ Trao trả tù binh và người bị giam giữ.
+ Thành lập Ủy ban liên hợp, Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế.
- Đối với riêng Việt Nam:
+ Những điều khoản về đình chỉ chiến sự và lập lại hòa bình: ngừng bắn, tập kết, chuyển quân được hai bên thực hiện trong thời hạn 300 ngày; chuyển giao khu vực, trao trả tù binh và thường dân bị giam giữ, đổi vùng, vấn đề mồ mả quân nhân hai bên tham chiến.
+ Những điều khoản về duy trì và củng cố hòa bình ở Việt Nam: Lập giới tuyến quân sự tạm thời ở vĩ tuyến 17 và khu phi quân sự (sông Bến Hải); không coi vĩ tuyến 17 là ranh giới chính trị hay lãnh thổ; cấm tăng viện nhân viên quân sự, bộ đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh khác vào Việt Nam; cấm xây dựng căn cứ quân sự mới; cấm hai miền không được gia nhập liên minh quân sự nào; cấm sử dụng mỗi miền để phục vụ cho bất kỳ chính sách quân sự nào.
+ Những điều khoản chính trị: Vấn đề tổng tuyển cử để thống nhất đất nước; Hiệp thương hai miền vào tháng 7/1955, tổng tuyển cử vào tháng 7/1956; tự do chọn vùng sinh sống; trong khi chờ đợi không khủng bố, trả thù hay phân biệt đối xử với những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
+ Những điều khoản quy định việc tổ chức thi hành Hiệp định: Ủy ban kiểm soát liên hợp, Ủy ban giám sát quốc tế trung lập.
Hiệp định Genève là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng. Lần đầu tiên các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được các nước lớn công nhận tại một hội nghị đa phương. Pháp và các nước tham gia hội nghị “cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”, “tuyệt đối không can thiệp vào công việc nội trị” của Việt Nam, Lào và Campuchia. Pháp buộc phải đình chỉ chiến sự và rút hoàn toàn quân đội khỏi lãnh thổ 3 nước Đông Dương. Gần 20 năm sau, Hiệp định Paris năm 1973 đã khẳng định lại những cơ sở pháp lý quan trọng này: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam đã công nhận”.
Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của Nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, giải phóng miền Bắc nước ta, tạo điều kiện xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn, vững mạnh cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Từ chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hiệp định Genève là một minh chứng hùng hồn về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong hành trình đấu tranh giành lại độc lập, tự do. Những dấu mốc lịch sử ấy mãi mãi khắc sâu trong tâm trí các thế hệ người Việt Nam và là niềm tự hào to lớn trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.